Trong thực tế kinh doanh, tranh chấp liên quan đến xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm thường là những thách thức phức tạp. Để giảm thiểu sự rắc rối và tiết kiệm thời gian, thủ tục rút gọn đã trở thành một lựa chọn hợp lý. Bài viết “Tư vấn giải quyết tranh chấp liên quan đến xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm theo thủ tục đơn giản (phần 1)” này sẽ cung cấp hướng dẫn chi tiết về cách giải quyết tranh chấp trong quá trình xử lý nợ xấu và tài sản bảo đảm theo thủ tục rút gọn, nhằm mang lại cái nhìn toàn diện và thông tin cần thiết cho những người đang đối mặt với tình huống này.
Về việc rút ngắn thủ tục giải quyết tranh chấp liên quan đến xử lý nợ khó đòi và bảo lãnh nợ khó đòi
Hướng dẫn áp dụng thủ tục rút gọn trong giải quyết tranh chấp liên quan đến tài sản bảo đảm trước Tòa án theo quy định tại Điều 8 Nghị quyết 42/2017/QH14, Nghị quyết 03 quy định Tòa án sẽ giải quyết theo thủ tục rút gọn đối với tranh chấp về tài sản bảo đảm. nghĩa vụ hoàn trả chứng khoán, tranh chấp quyền quản lý chứng khoán nợ xấu đáp ứng đủ điều kiện quy định tại Điều 1, Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14 và hướng dẫn Nghị quyết 03.
Nghị quyết 03 hướng dẫn một số nội dung liên quan đến việc áp dụng thủ tục rút gọn nêu trên như sau:
Thứ nhất, về việc giải quyết tranh chấp về nghĩa vụ giao hàng được bảo lãnh theo khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14, Nghị quyết 03 quy định tranh chấp này là tranh chấp giữa bên bảo lãnh và bên nắm giữ hàng. của tài sản. hàng hóa của khoản nợ khó đòi không được giao hoặc giao không theo yêu cầu của bên nhận bảo đảm hoặc bên có quyền quản lý tài sản bảo đảm để quản lý hàng hóa này để giải quyết nợ xấu.
Để giải thích rõ hơn, Nghị quyết 03 đưa ra một ví dụ về cách xác định loại tranh chấp này như sau: Ngân hàng Thương mại cổ phần A cho Công ty trách nhiệm hữu hạn B vay 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng). Công ty trách nhiệm hữu hạn B (người bảo lãnh) đã thế chấp căn nhà X thuộc sở hữu của mình cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A (người bảo lãnh). Khoản vay này được xác định là nợ khó đòi, Ngân hàng TMCP A yêu cầu Công ty trách nhiệm hữu hạn B bàn giao hữu hạn căn nhà B không qua. Khi đó, tranh chấp này được gọi là “Tranh chấp về nghĩa vụ bảo lãnh nợ khó đòi” theo Nghị quyết 03.
Thứ hai, liên quan đến tranh chấp về quyền quản lý chứng khoán nợ khó đòi theo khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14, Nghị quyết 03 quy định tranh chấp này là tranh chấp liên quan đến việc xác định chủ sở hữu pháp luật. nợ xấu. Ngoài ra, để giải thích rõ hơn, Nghị quyết 03 đưa ra một ví dụ cụ thể về cách xác định loại tranh chấp này như sau: Ngân hàng Thương mại cổ phần A cho Công ty trách nhiệm hữu hạn B. (đồng) vay 5.000.000.000 đồng (năm tỷ đồng). Để bảo đảm khoản vay theo hợp đồng vay, Công ty trách nhiệm hữu hạn B (bên bảo lãnh) đã thế chấp căn nhà X thuộc quyền sở hữu của mình cho Ngân hàng Thương mại cổ phần A (bên bảo lãnh). Khoản vay này được xác định là nợ khó đòi, ngân hàng thương mại cổ phần A yêu cầu Công ty trách nhiệm hữu hạn B bán căn nhà Finite. B không đồng ý vì cho rằng mình có quyền chuyển nhượng nhà X để giải quyết nợ khó đòi. Theo đó, tranh chấp này được xác định là “Tranh chấp về quyền quản lý chứng khoán nợ xấu” theo quy định tại Nghị quyết 03.
Thứ ba, về thỏa thuận nghĩa vụ bảo đảm trong trường hợp nợ khó đòi và có tranh chấp “không đương sự cư trú ở nước ngoài, tài sản tranh chấp ở nước ngoài” tại khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14, Nghị quyết 03. chỉ rõ rằng thỏa thuận này có thể được ghi trong hợp đồng bảo lãnh, phụ lục của hợp đồng bảo lãnh hoặc bất kỳ tài liệu nào khác có hiệu lực tương tự như hợp đồng.
Hơn nữa, theo Nghị quyết 03, tranh chấp “không có đương sự định cư ở nước ngoài” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14 phải là tranh chấp không thuộc các trường hợp sau đây. : (i) Nguyên đơn là người Việt Nam nhưng không cư trú tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn. Tòa án xác định nơi cư trú của đương sự theo quy định của Luật cư trú;(ii) Nguyên đơn là người nước ngoài không thường trú hoặc tạm trú tại Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu. Tòa án xác định nơi thường trú hoặc tạm trú của người nước ngoài theo quy định của Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; (iii) Nguyên đơn là tổ chức nước ngoài theo quy định tại khoản 26 Điều 4 Luật Công ty và không ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân tại Việt Nam khởi kiện hoặc tham gia tố tụng.
Đồng thời, Nghị quyết 03 cũng nêu rõ tranh chấp “không có tài sản tranh chấp ở nước ngoài” theo quy định tại Điều 8 Nghị quyết số 42/2017/QH14 là tranh chấp không có tài sản được xác định theo quy định tại Điều 8 Nghị quyết số 03/2017/QH14. 42/2017/QH14. 42/2017/QH14. quy định của Bộ luật dân sự ngoài lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam vào thời điểm Tòa án thụ lý đơn yêu cầu.
Chi tiết liên hệ
Công ty Luật Thái Dương FDI Hà Nội
Điện thoại: 0866 222 823
Email: luatthaiduonghanoi@gmail.com
Website: https://luatthaiduonghanoi.com
Fanpage: https://www.facebook.com/luatthaiduongfdihanoi
Địa chỉ: Tòa nhà Licogi 13, Số 164 Khuất Duy Tiến, Thanh Xuân, Hà Nội.